Ngôi trường thân thiện, tích cực

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BDTX THÁNG 2/2020

BDTX THÁNG 2/2020

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH THCS

I. Các biện pháp xây dựng môi trường học tập mang tính truyền thống cho học sinh THCS.

           b.Biện pháp 2: Tạo môi trường tương tác giữ người dạy – người học, người học – người dạy qua việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực.

          Dạy học phải phát huy tính tích cực nhận thức của người học liên quan đến quan điểm: “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm” xuất hiện cách đây hàng trăm năm, hay còn gọi là dạy hướng vào người học. Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm cuãng là vấn đề đang được tranh luận và lý giải bằng nhiều cách khác nhau. Các nhà khoa học giáo dục đã khai thác vấn đề này theo hướng tổ chức cho học sinh “học tập tích cực”. Bản chất của tư tưởng trên xét từ khía cạnh nhân văn bao gồm: Dạy học phục vụ cho nhu cầu của người học, tôn trọng, đồng cảm với nhu cầu, lợi ích, mục đích của người học, ôn trọng đồng cảm với nhu cầu, lợi ích, mục đích cho người học, tạo sự thu hút, thuyết phục, hình thành động cơ bên trong cho người học. Dạy học cần khai thác tối đa tiềm năng của người học, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo; dạy học tạo ra cho người học một môi trường để có thể tự khám phá. Mô trường đó bao gồm các thành tố:

- Các hình thức học tập đa dạng, linh hoạt.

          - Nội dung học tập phù hợp với khả năng, thiên hướng của người học.

          - Quan hệ thầy trò, bạn bè với tinh thần hợp tác dân chủ, giúp người học đạt tới mục đích nhận thức.

          Đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học được thể hiện

 

c. Biện pháp 3: Sử dụng kết hợp các hình thức tổ chức dạy học trong quá trình dạy học.

Có nhiều cách phân loại hình thức tổ chức dạy học. Khái quát cách phân loại và căn cứ vào thực tiễn dạy học, có các hình thức dạy học sau:

- Căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy học, có hình thức dạy học trên lớp và hình thức dạy học ngoài lớp.

+ Hình thức dạy học trên lớp:

- >Lớp học có thành phần không đổi  trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học.

-> Giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh.

->Học sinh nắm tài liệu trực tiếp tại lớp.

+ Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp: Là hình thức tổ chức dạy học trong đó giáo viên tổ chức , chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh ở địa điểm ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững, mở rộng kiến thức thông qua các hoạt động và các mối quan hệ đa dạng từ môi trường học tập.

- Căn cứ vào sự chỉ đạo của giáo viên đối với toàn lớp hay với nhóm học sinh trong lớp có: Hình thức dạy học toàn lớp và hình thức dạy học theo nhóm.

- Hình thức tổ chức dạy học cá nhân.

II. Các biện pháp xây dựng môi trường học tập hiện đại cho HSTHCS có sự ứng dụng của công nghệ thông tin.

1. Ý nghĩa của việc tạo ra môi trường học tập hiện đại có sự ứng dụng công nghệ thông tin.

a. Ý nghĩa đối với Giáo dục- Đào tạo nói chung:

Áp dụng CNTT sẽ mở rộng năng lực của cá nhân để nắm được thông tin nhằm giải quyết vấn đề trong suốt cuộc đời của họ. Công nghệ thông tin đang tạo ra một cuộc cách mạng về giáo dục mở và giáo dục từ xa, mang mầm mống của cuộc cách mạng sư phạm thực sự. Trong phương thức giáo dục từ xa, các phương tiện thông tin đã làm thay đổi cách dạy và học.

Yếu tố quan hệ truyền thống “dọc” giữa người dạy và người học chuyển sang quan hệ “ngang”, người dạy trở thành người hỗ trợ, người học trở thành người chủ động. Người học không chỉ thu nhận thông tin mà phải học cách chiếm lĩnh thông tin tùy theo nhu cầu và biến nó thành kiến thức của mình thông qua việc khai thác, xử lý, sử dụng các nguồn thông tin đa chiều hiện nay.

b.Ý nghĩa đối với giáo viên và học sinh

          - Việc ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng những bài điện tử, sách điện tử sẽ không chỉ đóng vai trò là phương tiện, điều kiện mà còn là môi trường để thực hiện quá trình dạy học hiệu quả.

          - Phát huy được vai trò, vị trí của người dạy và người học.

          So sánh các môi trường học tập.

 

2. Các biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tạo ra môi trường học tập hiện đại cho HSTHCS

Thiết kế giáo án dạy học tích cực và sử dụng bài giảng điện tử.

- Thiết kế giáo án dạy học tích cực.

B1: Thiết kế giáo án điện tử dạy học tích cực nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của HS trong quá trình dạy học theo cấu trúc:

+ Xác định mục tiêu bài học

+ Chuẩn bị các loại hình thiết bị dạy học truyền thống và thiết bị dạy học hiện đại.

+ Sử dụng hệ thống các phương pháp, các biện pháp phù hợp.

B2: Chọn và chắt lọc kỹ một số nội dung có thể ứng dụng có thể ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thống theo nguyên tắc sau:

Trong bài dạy có nội dung kiến thức mà các loại hình dạy học truyền thống không thể hiện được.

Giáo viên và học sinh không thể tiến hành được thí nghiệm chứng minh , thí nghiệm nghiên cứu trên lớp vì nguy hiểm, độc hại, đắt tiền.

          Những hiện tượng tự nhiên mà học sinh không biết và không thể tiếp cận: sóng thần, núi lửa... Do vậy phải sử dụng các đoạn Video clip cho học sinh xem trong quá trình dạy học.

B3: Thiết kế các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng... tạo sự tương tác giữa học sinh và máy vi tính bằng phần mềm Macromediaflash.

B4: Tích hợp các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng... vào các nội dung phù hợp trong giáo án dạy học tích cực.

B5: Đóng gói nội dung dữ liệu giáo án điện tử dạy học tích cực.

- Thể hiện giáo án điện tử dạy học tích cực trong quá trình dạy học:

+ Sử dụng hiệu quả bảng tính.

+ sử dụng tối đa và hiệu quả các loại hình thiết bị dạy học truyền thống.

- Quy trình xây dựng bài giảng điện tử theo hướng tích cực truyền thống đa phương tiện.

- B1: Tạo giao diện chung cho các Sline kiểu thiết kế giả Web của giáo án điện tử.

-B2: Nhập dữ liệu thông tin phần mềm từ kịch bản vào phần mềm Powerpoint.

- B3: tạo liên kết giũa các mục của giáo án điện tử dạy học tích cực với các sline khác.

- B4: Tạo hiệu ứng cho cột dàn ý của giáo án điện tử.

* Tổ chức  học tập trong môi trường E- Learning (học tập điện tử)

III. Thực hành các biện pháp xây dựng môi trường học tập cho học sinh THCS.

1.Thực hành xây dựng môi trường học tập truyền thống cho học sinh THCS.

- Lựa chọn một bài học cụ thể thực hành.

- Làm việc cá nhân để hoàn thành yêu cầu.

- Trao đổi tập thể về sản phẩm của mỗi cá nhân.

- Đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của từng cá nhân.

Ví dụ: Bài cấu trúc chung của máy tính điện tử - môn tin 6 giáo viên tiến hành xây dựng môi trường học tập truyền thống cho học sinh.

2. Thực hành xây dựng môi trường học tập hiện đại cho HS THCS có ứng dụng CNTT và truyền thống.

- Lựa chọn một bài học cụ thể thực hành.

- Làm việc cá nhân để hoàn thành yêu cầu.

- Trao đổi tập thể về sản phẩm của mỗi cá nhân.

- Đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của từng cá nhân.

Module THCS 36: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.

          I. MỤC TIÊU:

          - Nêu được quan niện về giá trị sống, định hướng và giá trị sống.

          - Phân loại giá trị sống và sự liên hệ giữa chúng.

          - Ý nghĩa của giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở.

          - Vận dựng các phuơng pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở.

          II. NỘI DUNG:

Nội dung 1:

Khái niệm giá trị sống và phân loại giá trị sống.

          Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm giá trị sống.

          - Nhiệm vụ:

          Bạn hãy cho biết ý nghĩa của giá trị sống.

          - Thống tin phản hồi:

          Giá trị sống (Living values) vốn là chủ đề đã được bản thảo từ khá sớm trong lịch sử. Trong những bản thảo đó, nhiều nội dung của các khoa học xã hội nhân văn như Triết học, Đạo đức học, Xã hội học, Tôn giáo học, Tâm lí học, Giáo dục học... đã đuợc đề cập đển để làm rõ nội hàm của nó. Chẳng hạn: Cuộc sống là gì? Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Những gì làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa? Làm thể nào con người có thể chung sống với nhau mà không xung đột? Con người có những quyền cơ bản nào? Điều gì làm nên phẩm giá của con người?...

          Vậy giá trị sống là gì: Giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống", “giá trị của cuộc sống") là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được. Vi thể, giá trị sống là cơ sở của hành động sống. Nó chi phối hành vi hướng thìện của con người. Thuật ngữ giá trị sống có thể quy chiểu vào những mối quan tâm, những thích thú, những cái ưa thích, những sở thích, những bốn phận, những trách nhiệm đòi thần, những ước muốn, những đòi hỏi, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn. Nói cách khác, giá trị sống có mặt trong thể giới rộng lớn và đa dạng của hành vi lựa chọn. Hành vi theo phản xạ không biểu hiện các giá trị sống hay sự đánh giá: từ cái nháy mắt bất thần tới phản xạ xương bánh chè hay bắt cứ quá trình sinh hoá nào trong cơ thể đều không tạo ra hành vi giá trị.

          Theo nghĩa hẹp, giá trị sống là quan niệm về cái đáng mong muốn (desirable) ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn. Theo định nghĩa này, có sự phân biệt giữa cái được mong muốn và cái đáng mong muốn. Định nghĩa này đuợc các ngành khoa học xã hội đánh giá cao, bởi nó loại trừ, chẳng hạn, những giá trị thuần tuý mang tính hướng lạc.

          Theo nghĩa rộng, giá trị sống là bất cứ cái gì được xem là tốt hay xấu; Hoặc giá trị là điều quan tâm của một chủ thể nào đó. Con người không lãnh đạm với thể giới. Dù công khai hay ngán ngẩm, họ đều xem mọi sự vật, hiện tượng như những cái tốt hay xấu, thật hay giả, ...

          Dường như, mọi giá trị sống đều chứa đựng một số nhận thức, chứng tỏ tính chất lựa chọn hay hướng dẫn và chúng bao gồm một số yếu tổ tình cảm. Các giá trị sống được sử dựng như là những tiêu chuẩn cho sự lựa chọn khi hành động. Khi đã đuợc nhận thức công khai và đầy đủ nhất, các giá trị sống trở thành những tiêu chuẩn cho sự phán xét, sự ưa thích và sự lựa chọn. Trong trường hợp khi còn dưới dạng tiềm ẩn hay chưa được nhận thức, các giá trị sống vẫn đuợc thực hiện như là chúng đã cấu thành cơ sở cho những quyết định trong hành vi. Trong rất nhiều trường hợp, người ta thưởng thích một điều ổn định hơn là những điều mối khác, người ta thưởng lựa chọn hướng hành động này hơn là hướng hành động khác, người ta thưởng phán xét hành vi cưa những người khác...

          Các giá trị sống không phải là những động cơ. Nhiều động cơ đặc thù thưởng có thể tăng cưởng sức mạnh cho một giá trị nhất định. Các giá trị sống cũng không đồng nhất với các chuẩn mục ứng xử. Các chuẩn mục là những quy tấc hành vi. chúng nói vê cái nên làm hay không em làm đối với từng loại nhân vật đặc thù trong những tình huống nhất định. Các giá trị sống là những tiêu chuẩn của điều đáng mong muốn mang tính độc lập hơn trong những hoàn cảnh riêng biệt.     Giá trị sống có thê là điểm quay chiểu cho rất nhiều các chuẩn mực riêng biệt. Trong khi, một chuẩn mực có thể thể hiện cùng một lúc nhiều giá trị riêng lẻ. chẳng hạn, giá trị "bình đẳng" có thể thâm nhâp vào những chuẩn mực trong các quan hệ giữa vợ - chồng, anh - em... nhưng mặt khác, chuẩn mục "giáo viên không được thìên vị khi cho điểm" trong trường hợp đặc thù có thể bao gồm các giá trị bình đẳng, trung thực, yêu thương...

          Các giá trị sống với tư cách là những tiêu chuẩn để xác định cái gì đáng mong muốn đã đưa ra cơ sở cho sự chấp nhận hay từ chổi những chuẩn mực riêng biệt.

          Hoạt động 2: Tìm hiểu chuẩn mực xã hội và quan hệ của chuẩn mực xã hội với giá trị sống.

          - Nhiệm vụ:

          Bạn hãy trao đối với đồng nghiệp và cho biết ý kiến của mình về chuẩn mực xã hội và quan hệ giữa chuẩn mực xã hội và giá trị sống?

          - Thông tin phản hồi:

         Chuẩn mực chỉ những quy tắc chung về ứng xử xã hội có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đuợc. Tất cả các xã hội đều có chuẩn mực, tuy chuẩn mục của mối xã hội có khác nhau, chẳng hạn, ở một số vùng nổng thổn Tây Phi, nếu một người lạ gõ của vào lúc nủa đêm thì chuẩn mục là phải mởi người lạ đó vào nhà và mởi người đó ăn, dọn cho cho người đó ngủ (cho dù có phải ngủ trên sàn nhà). Nhưng ở khu buổn bán ở LosAngeles, đáp lại lởi gõ của lúc giữa đêm lại là hành động bực tức, không tiếp, không niềm nở...

         Chuẩn mực đề ra những nguyên tắc chỉ đạo có thể "chấp nhận được" hoặc ứng xủ thích đáng trong một tình huống có thể làm. Nó còn chứa đựng một khía cạnh về cái mọi người nên làm.

         Các chuẩn mực không chỉ được áp dựng vào hành vi ứng xử. Ngay các xúc cảm cũng bị kiềm chế bởi các chuẩn mực. chẳng hạn, khi ta tự nhủ "Ta không nên tức giận như vậy", cho thấy rằng, chúng ta đang so sánh cảm xúc của Mình với một chuẩn mực nào đấy. ví dụ này cũng cho thấy, chuẩn mực cũng như những đặc trưng khác của văn hoá, đi vào nhận thức của chúng ta bằng những con đưởng rất tinh vi.

         Các chuẩn mực có sức đan kết xã hội rất chặt chẽ, có thể nhận ra bốn loại chuẩn mực, phụ thuộc vào mức độ tuăn thủ mà chúng đòi hỏi; một là tập quán; hai là phong tực; ba là luật pháp; bốn là kiêng kị.

          Từ đó có thể thấy, chuẩn mực có nguồn gổc ăn sâu vào các giá trị xã hội. Chuẩn mực là sự áp dựng cụ thể các giá trị vào đòi sống hằng ngày (giá trị sống). Giá trị sống là những tư tưởng bao quát chung cho mọi người về cái gì là tốt, cái gì là xấu, cái gì là đáng mong muốn, cái gì là không đáng mong muốn. Giá trị sống có tính chất khái quát hơn chuẩn mục ở chỗ, nó không quy định những ứng xử cụ thể cho những tình huống cụ thể. Trên thực tế, có những giá trị có thể hỗ trợ cho một số chuẩn mực khác nhau, thậm chí xung đột nhau, ví dụ, người phụ nữ coi trọng gia đình có thể bị giằng xé giữa việc tích cực ở cơ quan với việc dành nhiều thời gian ở nhà chăm sóc gia đình, cả hai cách ứng xử đều là những biểu hiện chuẩn mực của giá trị.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Video
Bản đồ vị trí
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 24
Hôm qua : 24
Tháng 08 : 371
Tháng trước : 1.678
Năm 2020 : 22.707
Năm trước : 9.207
Tổng số : 31.914