Ngôi trường thân thiện, tích cực

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tháng 1

BDTX

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN THÁNG 1 NĂM 2020

Họ và tên: Nguyễn Minh Cường

Chức vụ: Giáo viên

Tổ : KHTN

MODULE 36: GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HS THCS

 

5 .Vận dụng các phuơng pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở.

a. Các cấp tiếp cận giá trị:

Theo lí luận giáo dục, tiếp cận giá trị trải qua các các bước, các cấp độ sau đây:

- Cấp độ nhận thức, thể hiện ở hai mức độ:

+ Mức độ biết: Thể hiện ở mức độ giới hạn về các khái niệm, các sự kiện và thuật ngữ. Nên cần phải chuyển sang mức độ hiểu sâu hơn về bản chất bên trong của các khái niệm, sự kiện cũng như ý nghĩa của việc nắm được các khái niệm, các chuẩn mực, quy tắc... thể hiện các giá trị đó.

+ Mức độ hiểu: Mức độ này thể hiện sự hiểu sâu bản chất của giá trị để có thể thể hiện bằng hành vi phù hợp.

- Trong quá trình thảo luận cần đảm bảo rằng: Học sinh không chỉ biết được các giá trị mà còn cần hiểu được bản chất của các giá trị và các hình thái thể hiện của nó trong cuộc sống, hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên, đồng thời còn cần hiểu được cơ sở khoa học của hệ thống giá trị.

+ Cấp độ tình cảm: Nếu chỉ có biết và hiểu thì chứa đảm bảo những giá trị, những yêu cầu, những chuẩn mực được nội tâm hoá và tích hợp với hệ thống vốn kinh nghiệm đã có để trở thành tài sản riêng của mối cá nhân. Bước này đảm bảo các giá trị được cá nhân lựa chọn qua kinh nghiệm, được suy ngẫm và được khẳng định, đuợc nuôi dưỡng trở thành động cơ của hành vi, mục tiêu và lí tưởng của cuộc sống. Giá trị được nội tâm hoá là các giá trị được lựa chọn một cách tự nguyện thống qua các cách lựa chọn, đánh giá khác nhau nhở cọ sát các ý kiến trong quá trình thảo luận và trải nghiệm thực tiễn từ những tấm gương thầy cô giáo của mình.

+ Cấp độ hành động: Các giá trị được nội tâm hoá sẽ dẫn tới định hướng cho hành vi của cá nhân. Trên cơ sở nội tâm hoá các giá trị, yêu cầu đạo đức mối học sinh nên có những tình cảm tích cực, ý thức được trách nhiệm của mình trong cuộc sống và tu dưỡng để trở thành công dân tương lai và có những hành vi phù hợp trong cuộc sống. Điều này có thể diễn ra một cách tự nhiên, nhưng cần thìết phải được trải nghiệm các giá trị và rèn luyện qua hoạt động thực tiễn.

- Các cấp độ theo cách tiếp cận giá trị có thể tuân theo logic trên, nhưng cũng có thể thay đối trật tự và đan xen nhau một cách biện chúng, và hệ thống các chuẩn mục hành vi vừa có tình cảm và niềm tin vào sự cần thìết và ý nghĩa của nó. Từ đó, học sinh có niềm tin vào các giá trị sống, có định hướng, kiểm soát đuợc hành vi của mình trong hiện tại và tương lai.

- Giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở cần có sự kết hợp nhiều hình thức và phương pháp truyền đạt, tạo sự sinh động, hấp dẫn các em học sinh tham gia. Do vậy, giáo viên cần có sự đầu tư thời gian, công sức, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để tạo ra những bài giảng, hoạt động giáo dục giá trị sống cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi.

b.Giáo dục giá trị sống thống các phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học:

- Trong hoạt động giáo dục giá trị sống, phuơng pháp dạy học và kĩ thuật dạy học có ưu thể trong việc phát huy tính tích cực học tập cho học sinh. Dưới đây là một số phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực tiêu biểu, có ưu thể cao trong việc phát huy tính tích cực của học sinh và giáo dục giá trị sống:

+ Phương pháp dạy học nhóm.

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình.

+ Phương pháp giải quyết vấn đề.

+ Phương pháp đóng vai.

+ Phương pháp trò chơi.

+ Dạy học theo dự án (Phuơng pháp dụ án).

+ Kĩ thuật chia nhóm.

+ Kĩ thuật giao nhiệm vụ.

+ Kĩ thuật đặt câu hỏi.

+ Kĩ thuật “khăn trải bản".

+ Kĩ thuật “phòng tranh".

+ Kĩ thuật “công đoạn".

+ Kĩ thuật “các mảnh ghép".

+ Kĩ thuật động não.

+ Kĩ thuật “trình bày 1 phút".

+ Kĩ thuật “chúng em biết 3".

+ Kĩ thuật “hỏi và trả lời".

+ Kĩ thuật “hỏi chuyên gia".

+ Kĩ thuật “lược đồ tư duy".

+ Kĩ thuật “hoàn tất một nhiệm vụ".

+ Kĩ thuật “viết tích cực".

+ Kĩ thuật “đọc hợp tác" (còn gọi là đọc tích cực).

+ Kĩ thuật “nói cách khác".

+ Phân tích phim.

+ Tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm.

- Kĩ thuật dạy học và phuơng pháp dạy học không thể thay thể cho nội dung, do đó trong hoạt động giáo dục giá trị, giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:

+ Một là, chuẩn bị nội dung và hình thức trình bày trước mối bài học về giá trị. Về nội dung, giáo viên cần có được sự hiểu biết, trải nghiệm về giá trị đó, từ đó, căn nhắc đển các yếu tố tâm lí lứa tuổi, yếu tố nhận thức để đưa ra các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ cho phù hợp. về hình thức, cần nghiên cứu cách thể hiện, truyền đạt nội dung giá trị bằng phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học hoặc phương tiện dạy học nào cho phù hợp, kết hợp, lồng ghép ở phẩm nào trong bài học...

+ Hai là, chuẩn bị tâm thể cho cả học sinh và giáo viên. Trong sự kết hợp, lồng ghép, giáo viên cũng cần dành khoảng thời gian nhất định chuẩn bị tâm thể cho học sinh trước khi giảng dạy nội dung một giá trị nào đó cho phù hợp. Chẳng hạn, dạy về hoà bình, giáo viên có thể cho các em nghe một bài hát có nội dung về hoà bình, hoặc dành cho các em vài phút để suy ngẫm, để tập trung, thư giãn... dành thời gian cho các em được chia sẻ những suy nghĩ của bản thân... có thể tham khảo phương pháp của LVEP trong việc xây dựng bầu không khí dựa trên nền tảng các giá trị.

+ Ba là, tự mình và khuyến khích học sinh trải nghiệm và thực hành trên lớp cũng như ở nhà. Giáo viên cần là tấm gương cho các em noi theo trong cách ứng ử đối với các em, đồng thời, khuyến khích các em thực hành ở nhà và lắng nghe các phản hồi từ phía học sinh sau khi chính các em đã trải nghiệm qua các giá trị đó.

Kết luận:

Giáo dục giá trị sống là một thành phẩm quan trọng trong chương trình giáo dục phố thông, bên cạnh kiến thức, kĩ năng, thái độ. Giữa giá trị và nhân cách có mối quan hệ biện chúng, định hình giá trị góp phẩm hoàn thìện nhân cách và nhân cách hoàn thìện góp phẩm ổn định các giá trị của bản thân. Nhà trường đóng vai trở định hướng, điều chỉnh những hành vi của học sinh theo những giá trị và chuẩn mực chung của xã hội. Việc định hướng giá trị, xây dựng hệ thống giá trị ổn định cho học sinh trung học cơ sở là rất cần thìết trong bổi cánh hiện nay.

 

 

MODULE 6 :XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH THCS

I. Các biện pháp xây dựng môi trường học tập mang tính truyền thống cho học sinh THCS.

1. Ý nghĩa của việc xây dựng môi trường học tập cho học sinh THCS.

- Cấp THCS gồm 4 lớp, tiếp nhận học sinh từ 11-> 15 tuổi vào học. Nhiệm vụ của GDTHCS là trang bị cho học sinh có những hiểu biết cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, các kiến thức về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, những hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp, để có thể tiếp tục học các trường THPT, trường học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động.

- Hoạt động trọng yếu của học sinh THCS là học tập, kết quả học tập của học sinh phụ thuộc khá lớn vào môi trường học tập. Bởi vậy việc xây dựng được môi trường học tập cho học sinh là một việc quan trọng để hoàn thánh mục tiêu cấp học. Đạt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách cho HSTHCS.

2. Các biện pháp xây dựng môi trường học tập mang tính truyền thống cho Học sinh THCS.

a. Biện pháp 1: Kết hợp chặt chẽ giũa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội.

Con người là tổng hòa quan hệ xã hội. Mỗi con người sống luôn có bạn bè, gia đình và xã hội. Trong sự phát triển cá nhân con người bị nhiều yếu tố tác động. Do đó quá trình giáo dục sẽ đạt hiệu quả nếu biết phối hợp các lực lượng xã hội.

Giáo dục là quá trình có nhiều lực lượng tham gia, trong đó có 3 lực lượng chính: Nhà trường, Gia đình, Các đoàn thể xã hội. Các lực lượng này đều có mục đích chung là hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.

Để tiến hành giáo dục, các lực lượng giáo dục cần thống nhất về mục đích, yêu cầu, về nội dung và phương pháp giáo dục.

Gia đình là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em. Giáo dục gia đình dựa trên tình cảm huyết thống, các thành viên gắn bó với nhau trong sutts cuộc đời và như vậy giáo dục gia đình trở nên bền vững nhất, giáo dục gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với thế hệ trẻ.

Giáo dục xã hội là giáo dục trong môi trường trẻ em sinh sống. Mỗi địa phương có trình độ phát triển đặc thù, có truyền thống và bản sắc văn hóa riêng. Địa phương có phong trào hiếu học, có nhiều người thành đạt, có bạn bè tốt là môi trường ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của trẻ em.

Giáo dục xã hội còn bao hàm cả giáo dục đoàn thể: sao nhi đồng, đội thiếu niên, đoàn thanh niên là các tổ chức quần chúng có tổ chức, có tôn chỉ phù hợp với mục đích giáo dục của nhà nước và nhà trường.

Tuy nhiên, quá trình giáo dục phải lấy nhà trường làm trung tâm. Giáo dục nhà trường có mục đích và nội dung giáo dục toàn diện, dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn, có kế hoạch với đầy đủ các phương tiện đóng vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình giáo dục trẻ em.

Mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội và các cơ quan kinh tế, van hóa đóng ở địa phương càng chặt chẽ, càng đem lại những thành công cho giáo dục, trong đó nhà trường phải chịu trách nhiệm.

b.Biện pháp 2: Tạo môi trường tương tác giữ người dạy – người học, người học – người dạy qua việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực.

Dạy học phải phát huy tính tích cực nhận thức của người học liên quan đến quan điểm: “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm” xuất hiện cách đây hàng trăm năm, hay còn gọi là dạy hướng vào người học. Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm cuãng là vấn đề đang được tranh luận và lý giải bằng nhiều cách khác nhau. Các nhà khoa học giáo dục đã khai thác vấn đề này theo hướng tổ chức cho học sinh “học tập tích cực”. Bản chất của tư tưởng trên xét từ khía cạnh nhân văn bao gồm: Dạy học phục vụ cho nhu cầu của người học, tôn trọng, đồng cảm với nhu cầu, lợi ích, mục đích của người học, ôn trọng đồng cảm với nhu cầu, lợi ích, mục đích cho người học, tạo sự thu hút, thuyết phục, hình thành động cơ bên trong cho người học. Dạy học cần khai thác tối đa tiềm năng của người học, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo; dạy học tạo ra cho người học một môi trường để có thể tự khám phá. Mô trường đó bao gồm các thành tố:

- Các hình thức học tập đa dạng, linh hoạt.

- Nội dung học tập phù hợp với khả năng, thiên hướng của người học.

- Quan hệ thầy trò, bạn bè với tinh thần hợp tác dân chủ, giúp người học đạt tới mục đích nhận thức.

Đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học được thể hiện

 


Có nhiều cách phân loại hình thức tổ chức dạy học. Khái quát cách phân loại và căn cứ vào thực tiễn dạy học, có các hình thức dạy học sau:c. Biện pháp 3: Sử dụng kết hợp các hình thức tổ chức dạy học trong quá trình dạy học.

- Căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy học, có hình thức dạy học trên lớp và hình thức dạy học ngoài lớp.

+ Hình thức dạy học trên lớp:

- >Lớp học có thành phần không đổi trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học.

-> Giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh.

->Học sinh nắm tài liệu trực tiếp tại lớp.

+ Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp: Là hình thức tổ chức dạy học trong đó giáo viên tổ chức , chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh ở địa điểm ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững, mở rộng kiến thức thông qua các hoạt động và các mối quan hệ đa dạng từ môi trường học tập.

- Căn cứ vào sự chỉ đạo của giáo viên đối với toàn lớp hay với nhóm học sinh trong lớp có: Hình thức dạy học toàn lớp và hình thức dạy học theo nhóm.

- Hình thức tổ chức dạy học cá nhân.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Video
Bản đồ vị trí
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 12
Tháng 08 : 324
Tháng trước : 1.678
Năm 2020 : 22.660
Năm trước : 9.207
Tổng số : 31.867