Ngôi trường thân thiện, tích cực

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bồi dưỡng thường xuyên tháng 5

Tháng 5

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN   THÁNG 5- 2020

          Họ và tên: Nguyễn Minh Cường

          Chức vụ: Giáo viên

           Tổ : KHTN

MODULE 36: GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HS THCS

     

5.Vận dụng các phuơng pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở.

    a. Các cấp tiếp cận giá trị:

          Theo lí luận giáo dục, tiếp cận giá trị trải qua các các bước, các cấp độ sau đây:

          - Cấp độ nhận thức, thể hiện ở hai mức độ:

          + Mức độ biết: Thể hiện ở mức độ giới hạn về các khái niệm, các sự kiện và thuật ngữ. Nên cần phải chuyển sang mức độ hiểu sâu hơn về bản chất bên trong của các khái niệm, sự kiện cũng như ý nghĩa của việc nắm được các khái niệm, các chuẩn mực, quy tắc... thể hiện các giá trị đó.

          + Mức độ hiểu: Mức độ này thể hiện sự hiểu sâu bản chất của giá trị để có thể thể hiện bằng hành vi phù hợp.

          - Trong quá trình thảo luận cần đảm bảo rằng: Học sinh không chỉ biết được các giá trị mà còn cần hiểu được bản chất của các giá trị và các hình thái thể hiện của nó trong cuộc sống, hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên, đồng thời còn cần hiểu được cơ sở khoa học của hệ thống giá trị.

          + Cấp độ tình cảm: Nếu chỉ có biết và hiểu thì chứa đảm bảo những giá trị, những yêu cầu, những chuẩn mực được nội tâm hoá và tích hợp với hệ thống vốn kinh nghiệm đã có để trở thành tài sản riêng của mối cá nhân. Bước này đảm bảo các giá trị được cá nhân lựa chọn qua kinh nghiệm, được suy ngẫm và được khẳng định, đuợc nuôi dưỡng trở thành động cơ của hành vi, mục tiêu và lí tưởng của cuộc sống. Giá trị được nội tâm hoá là các giá trị được lựa chọn một cách tự nguyện thống qua các cách lựa chọn, đánh giá khác nhau nhở cọ sát các ý kiến trong quá trình thảo luận và trải nghiệm thực tiễn từ những tấm gương thầy cô giáo của mình.

          + Cấp độ hành động: Các giá trị được nội tâm hoá sẽ dẫn tới định hướng cho hành vi của cá nhân. Trên cơ sở nội tâm hoá các giá trị, yêu cầu đạo đức mối học sinh nên có những tình cảm tích cực, ý thức được trách nhiệm của mình trong cuộc sống và tu dưỡng để trở thành công dân tương lai và có những hành vi phù hợp trong cuộc sống. Điều này có thể diễn ra một cách tự nhiên, nhưng cần thìết phải được trải nghiệm các giá trị và rèn luyện qua hoạt động thực tiễn.

          - Các cấp độ theo cách tiếp cận giá trị có thể tuân theo logic trên, nhưng cũng có thể thay đối trật tự và đan xen nhau một cách biện chúng, và hệ thống các chuẩn mục hành vi vừa có tình cảm và niềm tin vào sự cần thìết và ý nghĩa của nó. Từ đó, học sinh có niềm tin vào các giá trị sống, có định hướng, kiểm soát đuợc hành vi của mình trong hiện tại và tương lai.

          - Giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở cần có sự kết hợp nhiều hình thức và phương pháp truyền đạt, tạo sự sinh động, hấp dẫn các em học sinh tham gia. Do vậy, giáo viên cần có sự đầu tư thời gian, công sức, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để tạo ra những bài giảng, hoạt động giáo dục giá trị sống cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi.

   b.Giáo dục giá trị sống thống các phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học:

          - Trong hoạt động giáo dục giá trị sống, phuơng pháp dạy học và kĩ thuật dạy học có ưu thể trong việc phát huy tính tích cực học tập cho học sinh. Dưới đây là một số phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực tiêu biểu, có ưu thể cao trong việc phát huy tính tích cực của học sinh và giáo dục giá trị sống:

          + Phương pháp dạy học nhóm.

          + Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình.

          + Phương pháp giải quyết vấn đề.

          + Phương pháp đóng vai.

          + Phương pháp trò chơi.

          + Dạy học theo dự án (Phuơng pháp dụ án).

          + Kĩ thuật chia nhóm.

          + Kĩ thuật giao nhiệm vụ.

          + Kĩ thuật đặt câu hỏi.

          + Kĩ thuật “khăn trải bản".

          + Kĩ thuật “phòng tranh".

          + Kĩ thuật “công đoạn".

          + Kĩ thuật “các mảnh ghép".

          + Kĩ thuật động não.

          + Kĩ thuật “trình bày 1 phút".

          + Kĩ thuật “chúng em biết 3".

          + Kĩ thuật “hỏi và trả lời".

          + Kĩ thuật “hỏi chuyên gia".

          + Kĩ thuật “lược đồ tư duy".

          + Kĩ thuật “hoàn tất một nhiệm vụ".

          + Kĩ thuật “viết tích cực".

          + Kĩ thuật “đọc hợp tác" (còn gọi là đọc tích cực).

          + Kĩ thuật “nói cách khác".

          + Phân tích phim.

          + Tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm.

          - Kĩ thuật dạy học và phuơng pháp dạy học không thể thay thể cho nội dung, do đó trong hoạt động giáo dục giá trị, giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:

          + Một là, chuẩn bị nội dung và hình thức trình bày trước mối bài học về giá trị. Về nội dung, giáo viên cần có được sự hiểu biết, trải nghiệm về giá trị đó, từ đó, căn nhắc đển các yếu tố tâm lí lứa tuổi, yếu tố nhận thức để đưa ra các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ cho phù hợp. về hình thức, cần nghiên cứu cách thể hiện, truyền đạt nội dung giá trị bằng phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học hoặc phương tiện dạy học nào cho phù hợp, kết hợp, lồng ghép ở phẩm nào trong bài học...

          + Hai là, chuẩn bị tâm thể cho cả học sinh và giáo viên. Trong sự kết hợp, lồng ghép, giáo viên cũng cần dành khoảng thời gian nhất định chuẩn bị tâm thể cho học sinh trước khi giảng dạy nội dung một giá trị nào đó cho phù hợp. Chẳng hạn, dạy về hoà bình, giáo viên có thể cho các em nghe một bài hát có nội dung về hoà bình, hoặc dành cho các em vài phút để suy ngẫm, để tập trung, thư giãn... dành thời gian cho các em được chia sẻ những suy nghĩ của bản thân... có thể tham khảo phương pháp của LVEP trong việc xây dựng bầu không khí dựa trên nền tảng các giá trị.

          + Ba là, tự mình và khuyến khích học sinh trải nghiệm và thực hành trên lớp cũng như ở nhà. Giáo viên cần là tấm gương cho các em noi theo trong cách ứng ử đối với các em, đồng thời, khuyến khích các em thực hành ở nhà và lắng nghe các phản hồi từ phía học sinh sau khi chính các em đã trải nghiệm qua các giá trị đó.

          Kết luận:

          Giáo dục giá trị sống là một thành phẩm quan trọng trong chương trình giáo dục phố thông, bên cạnh kiến thức, kĩ năng, thái độ. Giữa giá trị và nhân cách có mối quan hệ biện chúng, định hình giá trị góp phẩm hoàn thìện nhân cách và nhân cách hoàn thìện góp phẩm ổn định các giá trị của bản thân. Nhà trường đóng vai trở định hướng, điều chỉnh những hành vi của học sinh theo những giá trị và chuẩn mực chung của xã hội. Việc định hướng giá trị, xây dựng hệ thống giá trị ổn định cho học sinh trung học cơ sở là rất cần thìết trong bổi cánh hiện nay.

    II. Vận dụng kiến thức lí thuyết  vào thực tế.

       Qua học tập module “Giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS”, tôi đã hiểu sâu thêm về kiến thức của các giá trị sống như: Giáo dục giá trị sống giúp con người khám phá bản thân và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như 12 giá trị căn bản của toàn cầu. Có những giá trị sống đích thực, trở thành những giá trị chung cho nhiều người và toàn xã hội như lòng trung thực, hoà bình, tôn trọng, yêu thương, công bằng, tình bằng hữu, lòng vị tha.
 Không phải ai cũng nhận đúng giá trị của cuộc sống. Vì vậy, học tập để nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống là điều cần thiết với tất cả mọi người nhất là đối với thế hệ tương lai của đất nước. Trong nhà trường đã tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa hay giáo dục lồng ghép vào các môn học, hoạt động ngoài giờ lên lớp để các em được tham gia vào hoạt động thực tiễn của cuộc sống, tạo cơ hội cho các em bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, hành vi trong công việc, chia sẻ những khó khăn và niềm vui cũng như hoàn thiện dần dần các kỹ năng thực hành một cách tự nhiên.Trong đó giá trị sống là nền tảng để hình thành kĩ năng sống. Ngược lại, kĩ năng sống là công cụ hình thành và thể hiện giá trị sống( Kỹ năng sống đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì, và làm như thế nào)).

     Bản thân tôi là GVCN lớp tôi đã áp dụng các kiến thức lí thuyết của modunle 23 vào trong giảng dạy và thiết kế, tổ chức các buổi HĐGGLL để giáo dục giá trị sống cho học sinh .

  

 

MODULE 11 GVPT : Tạo dựng mối quan hệ hợp tác với cha mẹ học sinh và các bên liên quan trong hoạt động dạy học và giáo dục học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông

 

1. Lợi ích của việc xây dựng mối liên hệ giữa Phụ huynh, Nhà trường và Cộng đồng:

- Cha mẹ thường xuyên nắm bắt được tình hình học tập, rèn luyện ở trường, lớp của con; trên cơ sở đó hỗ trợ con em phát huy các điểm tốt hoặc kịp thời ngăn chặn, điều chỉnh, sửa chữa các điểm hạn chế trong học tập và rèn luyện.

- Thầy cô giáo có thêm hiểu biết về học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, từ đó có phương pháp giáo dục phù hợp, toàn diện và có định hướng đúng để quan tâm giúp đỡ được nhiều hơn đối với từng em trong từng hoàn cảnh khác nhau.

- Cộng đồng nhận thấy vai trò trách nhiệm của mình, tích cực hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho nhà trường, gia đình giúp đỡ các em học tập và rèn luyện.

2. Nội dung và phương pháp xây dựng, duy trì mối liên hệ giữa Phụ huynh, Nhà trường, Cộng đồng:

2.1. Mối liên hệ giữa Phụ huynh và Nhà trường

2.1.1. Đối với Phụ huynh:

- Thiết lập và duy trì mối liên hệ với Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn qua gặp gỡ trực tiếp, gọi điện thoại, xem sổ liên lạc hay các kỳ họp Phụ huynh.

- Thường xuyên nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của con ở trường, lớp đồng thời cung cấp thông tin (diễn biến tâm tư, tình cảm) của con cho Giáo viên chủ nhiệm.

- Tham gia đầy đủ các cuộc họp Phụ huynh, các hoạt động khác theo yêu cầu của trường, lớp.

- Nắm bắt thông tin và luôn giữ liên lạc với ban Phụ huynh, cán sự lớp và bạn bè thân thiết của con.

2.1.2. Đối với Nhà trường:

- Thông tin cho Phụ huynh biết về các hoạt động giáo dục của Nhà trường.

- Giám sát Giáo viên, Học sinh trong việc dạy và học; cử Giáo viên hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

- Đinh hướng nội dung các kỳ họp Phụ huynh, cần có nhiều nội dung trao đổi khác như: phương pháp giáo dục con, cách thức giao tiếp với con...

- Huy đông cộng đồng hỗ trợ để học sinh có “3 đủ - 1 có” ( đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở và có góc học tập).

- Tô chức các buổi truyền thông đến cha mẹ học sinh về nội dung giáo dục (có sự hỗ trợ của cộng đồng).

2.2. Mối liên hệ giữa Phụ huynh và Cộng đồng

2.2.1. Đối với Phụ huynh:

- Tạo điều kiện tốt nhất cho con được tham gia các hoạt động cộng đồng.

- Các gia đình cùng trong địa bàn dân cư thường xuyên trao đổi, phản ánh các thông tin về giáo dục con em thông qua các cuộc họp, sinh hoạt CLB...

2.2.2. Đối với Cộng đồng:

- Thường xuyên cung cấp thông tin về giáo dục Học sinh cho gia đình thông qua họp tổ dân phố, sinh hoạt CLB, loa truyền thanh của phường xã.

- Tổ chức các hoạt động sinh hoạt Cộng đồng phù hợp với từng lứa tuổi.

- Nắm bắt tình hình Học sinh bỏ học, hỗ trợ gia đình giáo dục học sinh chưa ngoan, biểu dương khen thưởng Học sinh có thành tích trong học tâp, rèn luyện.

- Các tổ chức xã hội (Hội phụ nữ, Nông dân, Đoàn TN, Hội khuyến học…) phối hợp phân công giúp đỡ Học sinh khuyết tật, hoặc có hoàn cảnh khó khăn (tư vấn kiến thức nuôi dạy con, hỗ trợ vật chất, tinh thần...).

- Thành lập và đẩy mạnh Quỹ khuyến học, Chi hội khuyến học…

2.3 Mối liên hệ giữa Phụ huynh và Phụ huynh:

- Chia sẻ kinh nghiệm giáo dục con trực tiếp thông qua mối liên hệ làng xóm, sinh hoạt CLB, họp phụ huynh, gọi điện thoại...

- Nội dung trao đổi:

+ Cách mua và sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo.

+ Chọn lớp, chọn trường, chọn nghề, chọn bạn...

+ Cách hướng dẫn con học tập hiệu quả.

+ Chăm sóc, nuôi dưỡng để con có sức khỏe.

+ Cách quản lý, giám sát, hỗ trợ giúp con học tập tốt.

* Kinh nghiệm cho chúng ta thấy: Để thiết lập, duy trì và tăng cường mối liên hệ của Gia đình, Nhà trường, Cộng đồng được tốt thì vai trò của Gia đình là vô cùng quan trọng. Các bậc cha mẹ cần chủ động xây dựng mối liên hệ và thường xuyên duy trì các mối liên lạc thì việc hỗ trợ con học tập và rèn luyện mới đạt hiệu quả.

3. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC KẾT HỢP GIỮA 3 MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH

3.1. Sự phối hợp giữa các nhân tố gia đình - nhà trường - xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh:

Có 3 nhân tố chính trong việc giáo dục đạo đức học sinh đó là: gia đình, nhà trường và xã hội. Mỗi nhân tố đều mang 1 vai trò riêng nhất định:

+ Gia đình: là tế bào của xã hội, là nền tảng của mỗi quốc gia và là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần, đồng thời cũng là kim chỉ nam để tránh những nhận thức lệch lạc từ phía học sinh.

+ Nhà trường: là môi trường giáo dục chuyên nghiệp, không chỉ phát triển về kiến thức mà còn phải truyền tải cho học sinh những giá trị chuẩn mực của xã hội để các em trở thành những con người trí thức thật sự cố đời sống tinh thần phong phú bên cạnh cuộc sống gia đình.

+ Xã hội: là môi trường thực tế, giúp học sinh hoàn thiện một số kĩ năng cuộc sống, chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của học sinh.

Vì vậy, sự phối hợp của 3 nhân tố trên là việc làm hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách ở học sinh. Giống như chiếc kiềng 3 chân, đơn giản, vững chắc và không thể thiếu bất kì chân nào.

* Ví dụ 1: (thiếu yếu tố gia đình) Việc chấp hành trật tự an toàn giao thông học đường.

Đã có sự kết hợp khá tốt giữa nhà trường và xã hội trong việc thực hiện an toàn giao thông học đường. Học sinh được học luật giao thông từ cấp 1 và được liên tục cập nhật, bổ sung thông tin. Xã hội bảo vệ học sinh bằng những luật như đội mũ bảo hiểm và không được đi xe phân khối lớn. Việc thi hành pháp luật cũng đã được tiến hành gắt gao với sự kết hợp của nhà trường và xã hội. Tuy nhiên, không ít phụ huynh vẫn cho con đến trường bằng xe phân khối lớn, bất chấp và lách luật bằng cách gửi xe ở những bãi xe xung quanh trường. Đây là ví dụ điển hình cho việc gia đình không phối hợp với nhà trường và xã hội.

* Ví dụ 2: (nhà trường) Việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.

Đôi khi các bậc cha mẹ rất muốn cho con mình được bồi dưỡng thêm những khả năng giao tiếp cuộc sống để khi bước vào đời không phải ngỡ ngàng, thiệt thòi. Xã hội cũng đã tạo rất nhiều điều kiện cho các em học sinh có thể tham gia như tạo các nhà văn hoá, các tổ chức đoàn đội của phường. Tuy nhiên, với lịch học dày đặc, học ngày học đêm, học thêm chủ nhật như hiện nay thì việc bồi dưỡng kĩ năng sống dường như là bất khả thi.

* Ví dụ 3: (xã hội) Nhu cầu của học sinh.

Trong khi gia đình và nhà trường cố gắng hướng học sinh đến một tâm hồn trong sáng, cao đẹp, sống hết mình vì mọi người thì xã hội vô hình lại nhấn mạnh đến bằng cấp, địa vị, quyền lực, tiện nghi, sự giàu có. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến những quan niệm sống của học sinh mà đôi khi cả gia đình và nhà trường cũng không thể uốn nắn lại được.

Nói chung, bất kì sự không phối hợp hay phối hợp thiếu nhịp nhàng nào giữa 3 nhân tố sẽ gây cản trở rất lớn cho quá trình giáo dục đạo đức học sinh.

3.2. Những bất cập cần được giải quyết trong việc giáo dục đạo đức học sinh.

Trong tình hình hiện nay, sự phối hợp giữa 3 nhân tố đã ít nhiều vấp phải những cản trở nhất định do chính bất cập của nhân tố đó tạo ra.

* Đối với gia đình:

+ Một số gia đình không hề quan tâm hoặc quan tâm HS không đúng cách. Thả lỏng hoàn toàn hay cách giáo dục muốn con thành công hơn thành nhân đều dẫn đến kết quả không tốt.

+ Cách khắc phục: các bậc phụ huynh cần dành ra nhiều thời gian hơn cho việc dạy con nên người, không nên chỉ chạy theo các giá trị hiện thực như học vấn hay tiền bạc mà còn phải chỉ cho con thấy những giá trị của tâm hồn.

* Đối với nhà trường:

+ Hiện nay, khi một học sinh có biểu hiện sai trái về đạo đức thì xã hội phê phán rằng bộ môn GDCD đã không hoàn thành trách nhiệm của mình. Nhưng ít ai nghĩ được rằng, vấn đề chính cần giải quyết lại nằm trong nội dung chương trình. Cuốn sách được xem là chuẩn mực của VN hiện nay thì lại đặt nặng, nhồi nhét quá nhiều về những lý thuyết sáo rỗng xa rời thực tế.

Chương trình phổ thông chỉ chú trọng đến những bài học tư tưởng chính trị lớn lao mà lại vô tình bỏ quên những điều rất đời thường, biết sống và biết tôn trọng người khác những giá trị đạo đức của một con người. Trong nhà trường môn GDCD chỉ được coi là thứ yếu.

+ Cách khắc phục: Không có bất kì phương pháp nào hay hơn là phải thay đổi phương pháp giáo dục của môn GDCD. Chương trình phải thật sự có ích cho HS, là một hành trang đầy đủ để học sinh có thể tự tin bước vào cuộc đời. Đừng để xảy ra tình trạng 100% HS trả lời bài thi em sẽ nhặt rác lên khi thấy hay em sẽ dẫn cụ già qua đường nhưng rác thì đầy sân trường và đâu đó lại có chiếc áo trắng vô tâm băng nhanh sang đường bỏ lại cụ già choáng ngợp giữa dòng xe giờ tan tầm.

* Đối với xã hội:

+ Thế hệ sau không có một khuôn mẫu đạo đức để noi theo. Làm sao có thể áp dụng bài học an toàn giao thông vào thực tế khi một đứa trẻ thường xuyên thấy ba mẹ vượt đèn đỏ ? Và phải giáo dục đạo đức cho học sinh thế nào khi có những kẻ sai phạm rành rành nhưng vẫn thoát tội? Chính vì tiếp nhận quá nhiều thông tin tiêu cực nên học sinh sẽ bị hoang mang trong việc định hình nhân cách, hay tệ hơn là sẽ có những định hướng lệch lạc.

+ Cách khắc phục: Muốn giáo dục một ai đó, trước tiên phải giáo dục được chính mình. Thế hệ trước luôn phải có ý thức rằng mình là một tấm gương để thế hệ trẻ noi theo. Làm được như thế xem như đã thành công một phần không nhỏ trên con đường giáo dục nhân cách cho HS.
Tóm lại, thế hệ trẻ là tương lai của đất nước nên giáo dục đạo đức cho giới trẻ là cách chúng ta đào tạo ra những công dân tốt cho tổ quốc, là cách đầu tư tốt nhất cho tương lai của một đất nước. Giáo dục thế hệ trẻ ngay từ trong gia đình và trên ghế nhà trường luôn là điểm khởi đầu để một xã hội chuyển mình phát triển bền vững./.

4. Một số giải pháp nhằm làm tốt công tác giáo dục đạo đức cho Học sinh.

4.1. Nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và xã hội.

Gia đình, nhà trường và xã hội luôn được coi là "tam giác" giáo dục quan trọng đối với mỗi đứa trẻ. Tầm quan trọng của mỗi lực lượng cũng như mối quan hệ giữa ba lực lượng này trong việc giáo dục học sinh thì ai cũng hiểu nhưng vẫn có khoảng cách lớn giữa nói và làm. Vấn đề mấu chốt ở đây là làm như thế nào?

Trên thực tế, lâu nay, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường trong việc giáo dục học sinh không còn chặt chẽ như những năm trước. Sự lỏng lẻo của mối quan hệ này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song do cả hai phía giáo viên và cha mẹ học sinh. Chuyện cha mẹ học sinh chỉ gặp gỡ giáo viên trong hai buổi họp phụ huynh, thậm chí không trò chuyện với cô giáo của con, không phải hiếm. Giáo viên đến thăm nhà học sinh lại càng hiếm hơn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục đạo đức cho các em. Muốn “hướng thiện” cho trẻ thì trước hết cha mẹ phải xem con mình ra khỏi nhà có giống như ở nhà hay không. Có những học sinh ở nhà rất ngoan nhưng đó chỉ là sự giả tạo để che mắt bố mẹ, đến trường các em là con người hoàn toàn khác. Nhiều cha mẹ giật mình khi nhà trường thông báo tình trạng của con mình. Ngược lại, giáo viên muốn giáo dục học sinh thì phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em để chia sẻ và có biện pháp thích hợp với từng đối tượng. Có một học sinh trộm tiền của bạn, cô giáo điều tra ra, bắt học sinh đó phải tra lại số tiền và cô còn quyết tâm trừng trị đến cùng để học sinh này không tái phạm nhưng cô không biết rằng học sinh đó trộm tiền để cho em gái mình đóng tiền học vì cha mẹ hai em đã mất. Để đi đến giải pháp hiểu học sinh thì mới giáo dục được, trước hết, nhà trường cần chủ động gặp phụ huynh bằng việc tổ chức gặp mặt tại trường thông qua các buổi họp định kì hoặc đột xuất. Cũng có thể tổ chức các hoạt động khác để tăng cường sự có mặt của phụ huynh. Đối với giáo viên, cần khuyến khích, và có những quy định ràng buộc để giáo viên phải đến gặp phụ huynh như khen thưởng cho giáo viên giúp đỡ học sinh nghèo, giáo dục học sinh cá biệt phải có biên bản làm việc tại nhà với phụ huynh, tổ chức hoạt động “Một ngày xuống bản”…

Đối với những tác động tiêu cực của xã hội, ngoài những biện pháp phối hợp với chính quyền, đoàn thể ở địa phương, nhà trường cần tăng cường công tác giáo dục pháp luật, giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống cho học sinh. Tăng cường các buổi nói chuyện chuyên đề về giới tính, về sức khỏe vị thành niên, về “cạm bẫy xã hội” để học sinh có đủ kiến thức phòng tránh các tệ nạn xã hội. Bên cạnh việc giáo dục bằng tuyên truyền, nhà trường cũng cần tổ chức các hoạt động để hướng các em biết quý trọng con người, có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa và các giá trị truyền thống dân tộc. Phải cho các em thấy được, bản sắc văn hóa và các giá trị truyền thống là gốc rễ của mỗi con người, đứt gốc rễ ấy, con người không thể tồn tại. Khi các em đã ý thức được mối hiểm họa từ những luồng văn hóa đen thì không cần dùng biện pháp, trẻ cũng sẽ tránh được.

4.2. Gia đình, nhà trường phải luôn tự kiểm điểm mình.

Là thầy cô giáo, ai cũng mong muốn giáo dục trẻ nên người, với các biện pháp đa dạng và phong phú; song các biện pháp cần bảo đảm tính sư phạm, không vi phạm nhân cách trẻ. Các thầy cô đều trải qua lớp nghiệp vụ sư phạm, khi đã công tác đều được trau dồi thêm kiến thức, tham gia các lớp bồi dưỡng về giải quyết tình huống sư phạm, các biện pháp giáo dục tích cực… Song trong quá trình giáo dục, cũng có những trường hợp cá biệt khi thầy cô có cách giáo dục bột phát “không giống ai, không ai dạy, không ai đồng tình”; họ thực hiện và thấy được hiệu quả tức thì nên áp dụng như một kinh nghiệm. Ví dụ: phạt học sinh chép lại 20 lần một bài sử dài 4 trang giấy; bắt học sinh đứng một chân trong vòng tròn trong suốt một giờ học, cho cả lớp lên tát một học sinh vì hỗn với cô… Những biện pháp như vậy chỉ làm cho học sinh thêm tủi, thêm hận, có thể có những học sinh vì ngoan ngoãn mà gắng chịu nhưng chắc chắn các em sẽ in hằn dấu ấn không tốt suốt cả cuộc đời. Một vài trường hợp học sinh phản ứng bằng cách sừng sộ khiến cô giáo phải cầu cứu bảo vệ.

Nhìn những khuyết điểm như thế, mỗi thầy cô nên kiểm điểm lại bản thân mình. Trẻ mắc lỗi nhưng luôn sửa dễ hơn so với người lớn vì vậy thầy cô cần bình tĩnh để giáo dục các em đi đúng hướng.

Về phía gia đình, cần xem xét kĩ trước khi kết luận về giáo dục, có nhiều phụ huynh cho rằng con mình ngoan, tại biện pháp của thầy cô nên mới thế. Thậm chí căn cứ vào một vài sự việc để kết luận toàn bộ hệ thống giáo dục. Có một người bà kể rằng đứa cháu hơn 3 tuổi kêu nội làm trò, bé làm cô giáo; cô giáo đút cháo cho trò ăn, trò giả đò không ăn, cô giáo tát vào má, lấy muỗng cạy miệng và đòi dắt trò vào nhà vệ sinh cho ma cắn. Câu chuyện được kể lại cho bố mẹ cháu bé và nhanh chóng được lan truyền ra khu dân cư rồi họ cùng nhau kết luận, “Giáo dục hỏng”. Đây chỉ là lỗi của một bộ phận chứ không phải là bản chất của ngành giáo dục.
Một câu chuyện khác, một bà mẹ sinh ra ba đứa con cách nhau vài tuổi, đứa nào cũng biếng ăn. Bà mẹ phải bồng bế đi khắp xóm để dỗ bé, nhưng khi đưa các bé vào trường học một thời gian, thì: “Con tôi đã tự giác ăn vì không cô nào có thể bồng đi khắp nơi…”, bà khoe. Vậy lỗi không chăm sóc các bé đúng cách là tại ai? Hai học sinh nam, nữ ở một trường THCS, yêu nhau và ôm nhau trong trường, bị thầy cô nhắc nhở; sáng hôm sau, phụ huynh lên trường làm khó thầy cô. Vậy tại ai?

Tuy nhiên, nhà trường không thể trông chờ phụ huynh tự kiểm điểm mình được, muốn vậy phải gặp gỡ phụ huynh để phân tích.

4.3. Thầy cô cần phải là tấm gương cho học sinh noi theo, phải kiên trì, nhẫn nại.

Trẻ con thường hay bắt chước và cũng luôn coi thầy cô là thần tượng cho nên thầy cô giáo đặc biệt là thầy cô chủ nhiệm phải là tấm gương sáng, mẫu mực từ lời ăn tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên môn; quan hệ với học trò phải như là một người bạn lớn, vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên trì trong giáo dục học sinh theo kiểu mưa dầm thấm lâu; giáo dục đạo đức phải trở thành thói quen của mình. Sau cha mẹ, thầy cô là người gần gũi với học sinh hơn ai hết nên hiểu các em và nắm rõ hoàn cảnh để có định hướng đúng trong dạy dỗ mới là then chốt của thành công trong giáo dục.

“Trẻ em như búp trên cành”, “con người sinh ra vốn là thiện”. Tác động của gai đình, nhà trường, xã hội sẽ tạo nên những nhân cách khác nhau. Ngành giáo dục chúng ta đang gánh vác vai trò lớn mà xã hội gửi gắm đó là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài vì vậy mỗi nhà trường cần xây dựng môi trường giáo dục tốt, cần kết hợp ba yếu tố - rộng lớn là xã hội và nhà trường, nhỏ là gia đình và lớp học - để học sinh được học tập và rèn luyện trở thành những công dân có đức, có tài.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Video
Bản đồ vị trí
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 12
Tháng 08 : 324
Tháng trước : 1.678
Năm 2020 : 22.660
Năm trước : 9.207
Tổng số : 31.867